Category Archives: thiết kế thương hiệu

Brands Vietnam
Các thương hiệu Việt tự đào mồ chôn mình thế nào?

2 years ago

Facebook

Prev Article Next Article







Đánh giá bài viết



Đang đà phát triền nhưng chợt mất dần tên tuổi trên thị trường, các thương hiệu Việt đã tự đào mồ chôn mình như thế nào?
Sập bẫy chuyển giao công nghệ
Một điều rất dễ nhận thấy là các thương hiệu Việt sau khi đồng ý liên doanh cùng các thương hiệu nước ngoài thì hầu hết đều xảy ra hiện tượng đuối sức trong vai trò đối tác kinh doanh. Điều đầu tiên chính là không đủ khả năng để đáp ứng công nghệ của phía đối tác.
Chiêu thức này đã từng được Unilever áp dụng khi liên doanh với công ty P/S. Unilever là một tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng của Anh và Hà Lan. Khi Unilever thâm nhập thị trường Việt Nam năm 1995, hãng đã xúc tiến đàm phán để được chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu kem đánh răng P/S.
Thương hiệu P/S nay đã là của Unilever.
Với chiêu thức liên doanh cùng hợp tác khai thác nhãn hiệu P/S, Unilever đã từ từ mang công nghệ của mình vào hoạt động sản xuất của P/S. Thời điểm đó, nhìn vào sự hợp tác “đôi bên cùng có lợi” này, giới kinh doanh đều cho rằng P/S sẽ có lợi lớn vì vừa có được nguồn thu từ việc bán nhãn hiệu để xúc tiến các mục tiêu đầu tư khác, vừa tiếp tục được chia lợi nhuận qua doanh nghiệp liên doanh.
Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn ván bài hợp tác đã hoàn toàn lộ rõ bản chất thực của mình. Công ty Hóa phẩm P/S ngày càng đuối sức trong cuộc chạy đua theo công nghệ sản xuất mới.
Lý do là do liên doanh thay đổi công nghệ để phát triển sản xuất. Nếu như trước đây, vỏ kem đánh răng của P/S là nguyên liệu nhôm thì lúc đó, nhựa đã được dùng để thay thế. Công ty Hóa phẩm P/S đã không đủ sức đầu tư dây chuyền sản xuất mới để tiếp tục gia công cho liên doanh nên số cổ phần còn lại của P/S đã rơi vào tay Unilever.
Chạy theo nguồn vốn
Trên thực tế, không chỉ các thương hiệu Việt có lịch sử tồn tại từ trước chiến tranh mà ngay cả những thương hiệu mạnh của chúng ta góp mặt từ những năm trở lại đây cũng bị các thương hiệu ngoại thâu tóm. Trong đó, không ít thương hiệu do bị đuối sức trong việc chạy theo nguồn vốn đã trở thành con mồi ngon cho các công ty, tập đoàn nước ngoài.
Câu chuyện này gắn liền với trường hợp của thương hiệu nước giải khát Tribeco. Năm 2005, Tribeco nhận ra rằng, nếu không hợp tác để đẩy mạnh sự phát triển thì sẽ bị các đối thủ nước ngoài triệt hạ. Vì vậy, Tribeco đã bắt tay hợp tác với cổ đông lớn là Công ty cổ phần Bánh kẹo Kinh Đô (KDC) thông qua việc bán lại 35% cổ phần cho KDC. Hai năm sau, Tribeco tiếp tục hợp tác với đối tác chiến lược Uni – Presiden.

Thương hiệu nước giải khát Tribeco nay thuộc về Uni – President.
Được hậu thuẫn bởi hai “ông lớn” giàu vốn, tuy nhiên, ngược lại với những dự tính ban đầu, kết thúc năm tài chính 2008 Tribeco gây ra cú “sốc” lớn với thị trường khi công bố lỗ 145 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 5,32 tỷ đồng dù 3 quý đầu năm báo lãi.
Sau cú “sốc” đó, Tribeco bắt đầu “mất lái”, liên tiếp 12/13 quý sau đó toàn thua lỗ. Quý duy nhất có lãi là từ thu nhập bất thường của hoạt động chuyển nhượng cổ phần. Tính đến cuối năm 2011, Tribeco lỗ lũy kế tới 300 tỷ đồng, âm vốn chủ sở hữu. Theo thông báo của Tribeco tại đại hội cổ đông (tháng 7/2012), công ty lỗ khoảng 100 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 126 tỷ đồng.
Trong tình thế lỗ, đi vay vốn để cầm cự, Tribeco còn phải gánh vác nợ và các khoản chi cho Tribeco Bình Dương và Tribeco miền Bắc. Không những thế, khi vẫn đang còng lưng trả lãi cho các khoản vốn vay đầu tư các nhà máy, Tribeco lại vung tay đầu tư mua cổ phiếu KDC, Kidos và Sabeco. Đầu tư tài chính, chi phí lãi vay khi đầu tư dự án, việc trích lập dự phòng nợ khó đòi kết hợp với chi phí lập kênh phân phối, chi phí khi tung sản phẩm mới ra thị trường… khiến công ty thua lỗ lớn.
Và khi Tribeco Bình Dương thua lỗ nặng vào cuối năm 2008, Tribeco Sài Gòn sau đó đã dần dần bán hết phần vốn còn lại trong Tribeco Bình Dương cho chính Uni – President Việt Nam. Năm 2010, Tribeco Sài Gòn bán hết cổ phần ở Tribeco miền Bắc.
Ngoài ra, sau khi Tribeco Bình Dương đi vào hoạt động, Tribeco Sài Gòn đã quyết định đóng cửa hai nhà máy cũ tại TP. HCM. Như vậy, với việc giảm tỉ lệ nắm giữ và sau đó là bán hết vốn trong Tribeco Bình Dương, Tribeco Sài Gòn chỉ giữ vai trò là nhà bán hàng, hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn hàng do Tribeco Bình Dương cung cấp, mà thực chất là của Uni – President Việt Nam.
Một công ty đang ăn nên làm ra như Tribeco lẽ ra khi kết hợp với 2 đối tác lớn thì phải mạnh lên, thế nhưng, thực tế lại thua lỗ liên tục và dẫn đến giải thể, những công ty liên kết dần thuộc về tập đoàn nước ngoài từng là đối tác của mình, đây là điều thật khó hiểu. Từ đó, dư luận trong giới đầu tư cho rằng Uni-President đã có chủ đích thâu tóm và phải chăng chính một số cổ đông lớn đã tiếp tay?
Trong đại hội cổ đông thường niên diễn ra cuối tháng 6/2012 của Tribeco, toàn bộ người của Kinh Đô đã đồng loạt từ nhiệm, nhường chỗ cho người của Uni-President. Thành viên HĐQT người Việt Nam sau đó cũng đã từ nhiệm. Kinh Đô thoái vốn hoàn toàn khỏi Tribeco.
Như vậy, Tập đoàn Đài Loan nay đang kiểm soát toàn bộ thương hiệu nước giải khát Việt Nam. Uni – President Việt Nam nắm quyền chi phối và sở hữu 100% Tribeco Bình Dương
Với việc đẩy Tribeco rơi vào cảnh buộc phải giải thể, nhà đầu tư nước ngoài này được độc chiếm thương hiệu Tribeco gắn với “đuôi” Bình Dương, chưa kể còn được hưởng một thị phần đáng kể của sản phẩm này mà không phải tốn một đồng để xây dựng thương hiệu.
Theo Petrotime
Share this:Click to share on Twitter (Opens in new window)Click to share on Facebook (Opens in new window)Click to share on Google+ (Opens in new window)Click to share on Pinterest (Opens in new window)Click to share on LinkedIn (Opens in new window)Click to share on Tumblr (Opens in new window)

Related

Prev Article Next Article

Brands Vietnam
Chiến lược “hai cánh tay” của Thiên Long

2 years ago

Facebook

Prev Article Next Article







Đánh giá bài viết



Khi Bến Nghé và Hồng Hà mải rong ruổi đa ngành với chăn nuôi, bất động sản, kinh doanh khách sạn…, Thiên Long đã đạt mức tăng trưởng kỷ lục trong vòng 10 năm trở lại đây, một phần nhờ một hệ thống công ty chuyên tập trung vào mảng B2B (Business to Business).
Thiên Long đã tiến hành phát triển các kênh bán hàng B2B và thương mại điện tử.
B2B của Thiên Long tỏa ra 2 phân khúc đối tượng: Nhà sách – siêu thị và Trường học – các doanh nghiệp. Đây cũng là nhân tố chính đẩy mạnh tăng trưởng kép của dòng sản phẩm Dụng cụ văn phòng – dòng sản phẩm dự kiến sẽ “vượt mặt” Bút viết.
Nếu nói B2B là chiến lược cánh tay phải của Thiên Long, thì gia tăng xuất khẩu có thể coi như chiến lược cánh tay trái của tập đoàn này, dự kiến sẽ tăng trưởng với CAGR 30% giai đoạn 2015-2019.
Theo dõi báo cáo tài chính của CTCP Tập đoàn Thiên Long dễ thấy công ty này đang mức tăng trưởng tốt nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Chủ tịch Thiên Long Cô Gia Thọ cho biết trong một bài báo mới đây của Forbes Việt Nam thì động lực phát triển của công ty nằm ở việc sử dụng nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài.
B2B – Cánh tay phải đắc lực của Thiên Long
Kể từ khi niêm yết trên sàn chứng khoán TPHCM, tập đoàn đã 3 lần tăng vốn điều lệ vào các năm 2010, 2012 và 2014, từ mức vốn điều lệ 120 tỷ đồng, tăng lên gần 268 tỷ đồng.
Nhờ vốn cổ đông, từ năm 2010, Thiên Long đã tiến hành phát triển các kênh bán hàng mới, trực tiếp, bao gồm mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và thương mại điện tử. Các nỗ lực này nằm trong chiến lược phát triển quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng, do hai công ty con Tân Lực phụ trách, gồm Tân Lực Miền Nam và Tân Lực Miền Bắc.
Chiến lược B2B của Thiên Long chia ra với 2 đối tượng: Nhà sách – siêu thị và Trường học – các doanh nghiệp.
Năm 2014, doanh thu thuần của hệ thống Tân Lực đạt 355 tỷ đồng, tăng 70% so với năm 2013, đóng góp 21% vào tổng doanh thu toàn tập đoàn.
Trong khi triển vọng tăng trưởng kênh thương mại điện tử của Thiên Long – Flexoffice là khá lớn và phù hợp với chiến lược đẩy mạnh mảng B2B của tập đoàn thời gian gần đây, B2B tiếp tục là chiến lược chủ chốt giúp tăng trưởng doanh thu trong thời gian tới.
Theo phân tích của CTCP Chứng khoán Bản Việt (VCSC), với dòng sản phẩm Dụng cụ văn phòng, B2B tiếp tục là chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng kép (CAGR) của dòng sản phẩm này giai đoạn 2015 – 2019 lên mức 23%, mức tăng trưởng cao nhất so với 3 dòng sản phẩm khác là Bút viết, Dụng cụ học sinh và Dụng cụ mỹ thuật.
Bên cạnh đó, dụng cụ học sinh và Dụng cụ mỹ thuật cũng sẽ tăng trưởng mạnh khi Thiên Long tận dụng tốt các mối quan hệ tốt với các tổ chức và trường học.
VCSC phân tích: Doanh thu của Thiên Long sẽ tăng trưởng 15% trong giai đoạn 2015-2019, trong đó, Dụng cụ văn phòng là yếu tố dẫn dắt tăng trưởng chính và sẽ thay thế phân khúc Bút viết để trở thành thành phần đóng góp doanh thu lớn nhất (30% trong năm 2019) trong 5 năm.
Với kênh phân phối truyền thống, Thiên Long đã cơ cấu lại mạng lưới phân phối bằng cách đánh giá lại từng nhà phân phối và chỉ giữ lại các nhà phân phối hiệu quả nhất. Kết quả của đợt sàng lọc là số nhà phân phối giảm từ 135 trong năm 2013 xuống 110 trong năm 2014 nhưng số điểm bán lẻ tăng mạnh thêm 7.000 điểm (từ 46.000 lên 53.000 điểm bán lẻ).
Mạng lưới phân phối cải thiện giúp Thiên Long mở rộng thị phần, nâng cao độ thâm nhập thị trường tại các tỉnh thành. Để dễ đánh giá tính hiệu quả của mạng lưới phân phối của Thiên Long, có thể nhìn sang đối thủ của Thiên Long – Công ty Văn phòng phẩm Hồng Hà. Hồng Hà có lượng nhà phân phối gần bằng Thiên Long với gần 100 nhà phân phối, nhưng số điểm bán lẻ chỉ bằng 1/5 của Thiên Long (hơn 10.000 điểm bán lẻ).
Xuất khẩu – Tay trái tiềm năng
Nếu nói B2B là chiến lược cánh tay phải của Thiên Long, thì gia tăng xuất khẩu có thể coi như chiến lược cánh tay trái của tập đoàn này, dự kiến sẽ tăng trưởng với CAGR 30% giai đoạn 2015-2019, nhờ vào việc mở rộng thành công sang các nước ASEAN và thâm nhập vào các thị trường khó tính như Trung Quốc, Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU).
Trong những năm cuối thập kỷ 90s, bút bi Thiên Long từng đánh bật bút bi Trung Quốc trên thị trường Việt Nam.
Lịch sử này liệu có lặp lại trên “sân khách”?
“Ngày càng có nhiều lo ngại về độ an toàn của các sản phẩm Trung Quốc đối với trẻ em nên người tiêu dùng Việt Nam hiện nay sẵn sang mua các sản phẩm an toàn hơn với giá cao hơn. Một điều thú vị là tình hình tương tự cũng diễn ra tại Trung Quốc – một trong những thị trường xuất khẩu của Thiên Long. Người tiêu dùng Trung Quốc không tin tưởng các sản phẩm trong nước nữa và không phải ai cũng có đủ điều kiện để mua sản phẩm nhập khẩu từ Phương Tây, qua đó mở ra cơ hội cho Thiên Long”, VCSC nhận xét về lợi thế của Thiên Long trên thị trường Trung Hoa.
Doanh thu xuất khẩu của Thiên Long năm 2014 đạt 181 tỷ đồng, tăng 32,2% so với năm 2013. Lũy kế từ năm 2010 đến nay, doanh thu xuất khẩu của Thiên Long đã tăng 3,3 lần.
Theo Theo Trí Thức Trẻ
Share this:Click to share on Twitter (Opens in new window)Click to share on Facebook (Opens in new window)Click to share on Google+ (Opens in new window)Click to share on Pinterest (Opens in new window)Click to share on LinkedIn (Opens in new window)Click to share on Tumblr (Opens in new window)

Related

Prev Article Next Article

Brands Vietnam
Câu chuyện đưa ngọc Việt ra thế giới của “Tuấn Ngọc Trai”

2 years ago

Facebook

Prev Article Next Article







Đánh giá bài viết



Mười lăm năm trước, kỹ sư tin học Hồ Thanh Tuấn quyết định từ chối đề nghị điều hành một doanh nghiệp (DN) công nghệ thông tin tại TP.HCM để lặn lội ra Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu) nuôi ngọc trai theo dự án đầu tư của một nhóm các chuyên gia đến từ Pháp.

Quyết định này được coi là liều lĩnh, mạo hiểm và hoang tưởng! Thế nhưng, bỏ lại sau lưng tất cả, rồi có những lúc gần như trắng tay, ông vẫn dấn thân phơi mình dưới nắng biển rát mặt, ngụp lặn như những ngư dân thực thụ để khám phá ra những bí ẩn của loài trai biển với những viên ngọc nhiều sắc màu…
Máu và biển
“Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, hơn chục năm, nhiều cống hiến cho ngành chế tác ngọc trai nói riêng và ngành trang sức Việt Nam nói chung của Hồ Thanh Tuấn đã được ghi nhận. Ngọc Trai Hoàng Gia thành danh với nhiều mẫu trang sức thiết kế độc đáo, gắn liền với truyền thống dân tộc như: bộ ngọc trai Hồn Việt, Phượng hoàng tung cánh, Quà của biển…, thu hút người tiêu dùng nhiều lứa tuổi.
Đặc biệt, Công ty sở hữu bản quyền sáng chế mang tính đột phá như: phương pháp tạo hoa văn chìm cho ngọc trai, phương pháp tạo hình ngọc trai từ chiếc răng sữa của trẻ em… Biệt danh “Vua ngọc trai” ra đời từ đó và dần đưa Hồ Thanh Tuấn trở thành nghệ nhân cấp quốc gia trong lĩnh vực kim hoàn, đá quý.
Tháng 12/2011, ông được trao tặng danh hiệu Nghệ nhân Quốc gia và hồ hởi hơn khi có nhiều đơn hàng đến từ các nước Úc, Pháp, Mỹ, Thụy Sĩ và Thái Lan…

Trước sự phản đối quyết liệt của gia đình và bạn bè, ông có thấy mình mạo hiểm?
– Ban đầu, tôi thiết kế website về ngọc trai. Sau này, thấy tôi có khả năng, nhóm chuyên gia người Pháp mời tôi hợp tác nuôi trai lấy ngọc với vai trò là Trưởng dự án tại Việt Nam. Từ đây, hơn 100ha mặt nước biển được chính quyền huyện Côn Đảo cho thuê với giá ưu đãi trong 20 năm, kể từ năm 2001.

Họ đưa ra khoản thù lao tương đương khoảng một tỷ đồng khi hoàn vốn. Trước đề nghị này, tôi đã mất 3 tháng suy nghĩ vì công ty tôi đang làm cũng muốn giao hết cơ nghiệp cho tôi do ông chủ bận việc gia đình. Cuối cùng tôi đã chọn ra biển. Đối tác chính là những người đã đặt hàng tôi thiết kế website về ngọc trai và điều này giúp tôi an tâm hơn.
Vì thế, nếu kết quả không như mong đợi, không có khoản thù lao một tỷ đồng, thì tôi cũng được đi nước ngoài du học, được thực hiện ước mơ từ nhỏ của mình. Nhà tôi nghèo, du học là việc rất xa xỉ. Tính toán là vậy nhưng khi bước vào thực hiện dự án, tôi đam mê nghề này lúc nào không hay. Với tôi, nó là một trải nghiệm mới.
Trải nghiệm mới mang lại cho ông thách thức hay niềm vui?
– Lớn lên trong gia đình cha làm vườn ở huyện Mỹ Tú (Sóc Trăng), lần đầu đến với biển Côn Đảo, tôi khám phá được nhiều điều thú vị ngoài tưởng tượng khi tận tay sờ vào những con trai cho ra những viên ngọc quý. Nhưng ngay sau những phấn khích ban đầu, nhiều khó khăn ập đến. Lênh đênh trên biển khiến tôi bị say sóng, nôn ói, nắng ở ngoài khơi nóng rát mặt.

Đứng trên tàu đã mệt, lặn xuống biển còn khó khăn hơn. Những ngày đầu lặn biển, tôi luôn bị ù tai và chảy máu mũi. Không ít lần tôi bị sụp hố san hô giữa biển, phải lết vào bờ với đôi chân tứa máu. Khó khăn dưới biển còn chưa quen thì khó khăn “trên bờ” lại ập đến.
Dự án kéo dài 6 năm với hàng triệu chế tác từ ngọc trai dự kiến xuất khẩu còn dang dở thì xảy ra khủng hoảng kinh tế. Năm 2007, công ty mẹ bên Pháp phá sản nên nhóm chuyên gia bỏ dự án về nước giữa chừng. Tôi một mình ở lại với hai bàn tay trắng.
Thời điểm đó, ông có nhận thấy mình đã quyết định sai lầm?
– Lúc đó, tôi đã từng muốn buông xuôi do chịu quá nhiều áp lực! Nhưng gia đình và bạn bè không ai trách tôi, ngược lại còn cho tôi mượn vốn để tiếp tục gầy dựng lại sự nghiệp. Không giống thời điểm bắt đầu, khi mọi người can ngăn thì tôi lại mạnh mẽ tìm kiếm cơ hội mới.

Còn lúc này, trước sự ủng hộ của nhiều người, tôi lại vô cùng cân nhắc, vì lần này không còn cơ hội sửa sai. Rất nhiều đêm, vợ chồng tôi ôm nhau khóc, lo thất bại, lo cho tương lai gia đình.
Nhưng tôi đánh liều thêm lần nữa, quyết bám biển, bám nghề nuôi trai lấy ngọc gắn bó suốt 6 năm qua. Bán tất cả những tài sản đang có, cộng với vốn liếng bạn bè cho mượn, tôi ra đảo tiếp tục dự án dở dang khi chỉ còn lại một mình.
Từ kiến thức tích lũy được trong quá trình làm việc với nhóm chuyên gia người Pháp, tôi lao vào nghiên cứu và đi rất nhiều nước có nuôi trai lấy ngọc để tìm hiểu về thổ nhưỡng, vùng nước, giống trai, kỹ thuật nuôi – cấy – ghép…

Sau 2 năm làm việc cật lực, kết quả thu được là hàng nghìn viên ngọc trai. Kết quả này còn giúp tôi khám phá ra một “bí mật”, đó là vùng biển Việt Nam có rất nhiều nơi có thể nuôi được các giống trai tạo ngọc với đủ màu sắc khác nhau, trong khi ở những vùng biển của các nước khác chỉ có thể nuôi được rất ít loài.
Thành công lần này không chỉ giúp tôi dần trả hết nợ, mà còn đem về cho tôi khoản “thù lao” lớn hơn nhiều so với những hứa hẹn của dự án 8 năm trước.
Doanh nhân và nghệ nhân
Từ thành công sau lần “chết đi sống lại”, số ngọc trai thu được trong trại nuôi của ông Hồ Thanh Tuấn ngày một tăng, từ hàng trăm lên đến hàng triệu viên. Lúc này ông mới nhận ra, bán ngọc trai thô cho các tiệm kim hoàn hay các đối tác nước ngoài không có nhiều lợi nhuận.
Vì thế, năm 2009, ông thành lập xưởng chế tác ngọc trai, nâng giá trị ngọc thô lên hàng chục lần dưới thương hiệu Ngọc Trai Hoàng Gia, phục vụ cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Việc ông quay lại thị trường nội địa xuất phát từ đơn hàng nước ngoài không còn nhiều hay do thị trường nội địa đã đến lúc cần được phát triển?
– Khủng hoảng kinh tế đã khiến thị trường hàng xa xỉ một số nước ở châu Âu chuyển hướng, cụ thể, các đơn hàng nhỏ nhất khoảng 50.000 USD/tuần cũng bị khách hàng cắt giảm còn 8.000 USD/tuần.
Các nguyên liệu vàng 14k và ngọc trai loại 1 được thay bằng bạc và ngọc trai loại 3, chủ yếu cung ứng cho thị trường thấp thứ cấp. Chúng tôi bị vướng ở vấn đề chi phí (nhân công, điện, nguyên liệu…) nên bị lỗ và chỉ giữ những đơn hàng xuất khẩu có hiệu quả.
Hiện các đơn hàng này đang chiếm khoảng 10% doanh thu, các khách hàng còn lại khi hết hợp đồng, chúng tôi đều từ chối tái ký để tập trung phát triển thị trường nội địa. Nhờ có năng lực khép kín quy trình sản xuất từ nuôi trồng, cấy ghép đến chế tác thành phẩm, nên thị trường trong nước nhanh chóng chấp nhận sản phẩm của Ngọc Trai Hoàng Gia.
Năm 2009, nếu so với các “ông lớn” trong ngành kim hoàn Việt Nam, rõ ràng Ngọc Trai Hoàng Gia là gương mặt mới. Ông đã làm gì để chinh phục khách hàng đến với các chế tác của mình?
– Lúc đó, trang sức từ ngọc trai chỉ mới chiếm 2% thị phần trang sức ở Việt Nam. Tôi biết muốn thắng, mình phải là người định hướng thị trường.
Đều đặn hằng tháng, tôi gửi thông tin lên các kênh truyền thông chia sẻ bí quyết về chế tác ngọc trai, hướng dẫn tiêu dùng, giúp độc giả phân biệt được ngọc trai thật và ngọc trai giả, ngọc trai nước ngọt và ngọc trai nước biển.
Gần cả trăm bài viết như vậy được tôi chia sẻ từ hiểu biết của một chuyên gia, chứ không phải một nhà làm DN. Ngoài ra, nhờ lợi thế và kinh nghiệm thiết kế website, ngay từ lúc ra mắt thị trường Việt Nam, tôi đã chọn online là kênh bán hàng chính và thiết kế web theo hướng “thân thiện” với Google.
Đồng thời, tôi đã làm điều mà ai cũng quở là “khùng” khi đưa tất cả mẫu mã lên website. Lâu dần, trang web ngoctraihoanggia.com vô tình trở thành thư viện của gần 20.000 tiệm kim hoàn trên toàn quốc. Thậm chí, họ còn mở website của chúng tôi ra cho khách chọn mẫu để đặt làm.
Giống như “hữu xạ tự nhiên hương”, ngoctraihoanggia.com được lên hạng trên trang tìm kiếm Google do có quá nhiều người truy cập. Dù rằng lúc đó tôi vẫn bị vướng một số cơ chế về kinh doanh online, nhưng kết quả bán hàng trên kênh này vẫn rất tốt. Bên cạnh đó, tôi đưa ra chính sách đổi, trả hàng miễn phí trong vòng 3 ngày, hoàn lại 100% tiền cho khách.
Đối với ngành kim hoàn, kinh doanh theo hướng chấp nhận cho đổi, trả miễn phí, hay đưa tất cả mẫu mã lên website đều được xem là quyết định mạo hiểm…
– Thực ra tôi đang áp dụng phương pháp kinh doanh có từ hàng trăm năm của các DN ở châu Âu, đó là hướng tâm lý khách hàng về “giá trị thật” của sản phẩm.
Tôi vẫn biết có nhiều đơn vị lấy mẫu trang sức của Ngọc Trai Hoàng Gia, rồi đặt gia công ở một đơn vị khác để bán. Tôi tự bảo vệ bằng cách đăng ký bản quyền và thuê luật sư gửi công văn đến những DN vi phạm bản quyền, đề nghị họ xin lỗi.
Việc cho đổi, trả miễn phí cũng gây ra nhiều khó khăn. Đặc biệt, số lượng khách ở tỉnh thường trả lại hàng nhiều “bất thường”. Thất thu mấy chục triệu đồng mỗi đơn hàng nhưng tôi vẫn duy trì chính sách này vì ngày càng tạo dựng được lòng tin với khách.
Sau này, nghe kể lại tôi mới biết, thực ra không phải khách hàng ở tỉnh chê sản phẩm, mà họ chỉ muốn “mượn” đồ để trưng diện mỗi dịp lễ, Tết hay cưới hỏi!
Tuy nhiên, từ ý định “mượn” ban đầu, sau này họ lại trở thành khách hàng thân thiết của Ngọc Trai Hoàng Gia. Cho đến bây giờ, tặng khách hàng cơ hội trải nghiệm sản phẩm chính là bí quyết giúp tôi thành công trước khi thuyết phục họ bằng yếu tố ngọc trai đẹp, giá tốt.
Những năm gần đây, nhiều thương hiệu ngọc trai lần lượt ra đời. Tại Phú Quốc, các thương hiệu cũng đua nhau quảng bá khá mạnh mẽ. Vậy sao Ngọc Trai Hoàng Gia chỉ xuất hiện khiêm tốn tại Vinpearl?
– Ở thị trường Phú Quốc, tôi cố tình không phát triển cho đến khi có tổ chức hay đơn vị nào đó đứng ra bảo chứng về thương hiệu Ngọc Trai Hoàng Gia. Vinpearl có tiêu chuẩn 5 sao và chọn Ngọc Trai Hoàng Gia trưng bày với tiêu chí như là một đơn vị dẫn đầu trong ngành ngọc trai.
Trước đây, tôi cũng có một trại nuôi ngọc trai ở Phú Quốc nhưng đã bỏ mấy năm nay vì nuôi ngọc trai ở đây rất khó, một số chỗ có thể nuôi được thì bị quy hoạch. Tôi cũng từng bán ngọc trai cho một số đơn vị ngoài Phú Quốc, nhưng đã dừng bán sau khi biết họ dùng để trộn lẫn với nhiều ngọc trai kém chất lượng khác.
Bản thân tôi cũng được mời tham gia nhiều vụ kiện, do các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng nhờ tôi bảo chứng dưới góc độ chuyên gia về chất lượng và nguồn gốc ngọc trai.
Chọn cách làm chậm mà chắc, ông có lo ngại sự cạnh tranh trực diện từ các DN FDI trong ngành ngọc trai vào thời gian tới?
– Thực sự, tôi không lo ngại lắm. Trong một khảo sát về độ cạnh tranh của Ngọc Trai Hoàng Gia, đặc biệt ở các địa điểm du lịch biển tại Việt Nam, tôi thấy mình có nhiều lợi thế hơn.
Cụ thể, tôi là người làm trực tiếp ở cả ba khâu nuôi cấy, chế tác và có hệ thống cửa hàng riêng, chi phí thấp hơn. Trong khi các thương hiệu khác phải nhập khẩu ngọc trai, tốn rất nhiều kinh phí thuê chuyên gia, đội ngũ làm truyền thông…
Về lâu dài, các DN nước ngoài vào Việt Nam thì cũng sẽ có một kịch bản chung như vậy, nên tôi không ngại cạnh tranh. Tôi vẫn tự tin vì khách hàng chọn ngọc của chúng tôi không đơn thuần vì đẹp, giá tốt mà còn vì niềm tin và cảm xúc của họ dành cho Ngọc Trai Hoàng Gia.
Cảm ơn những chia sẻ của ông!
Theo Doanh Nhân Sài Gòn
Share this:Click to share on Twitter (Opens in new window)Click to share on Facebook (Opens in new window)Click to share on Google+ (Opens in new window)Click to share on Pinterest (Opens in new window)Click to share on LinkedIn (Opens in new window)Click to share on Tumblr (Opens in new window)

Related

Prev Article Next Article